Facebook Share

Thứ Năm, ngày 27 tháng 3 năm 2014

NHỮNG CÂU NÓI ĐÁNG SUY NGẪM CỦA NHỮNG NHIẾP ẢNH GIA NỔI TIẾNG THẾ GIỚI


( Tóm tắt lại bài viết của tác giả Nguyễn Hà - báơ VnExpress  24/3/2014)

1. “Trong nhiếp ảnh, hiểu con người quan trọng hơn là hiểu máy ảnh”.

2. “Trong nhiếp ảnh có những khoảnh khắc tinh tế đến mức nó trở nên thật hơn cả bản thân thực tại đó”.

3. “Tôi nghĩ rằng nội dung cảm xúc của một bức ảnh là yếu tố quan trọng nhất chứ không phải là kỹ thuật nhiếp ảnh. Rất nhiều bức tôi thấy thường thiếu đi yếu tố cảm xúc có thể tác động tới người xem hay làm cho họ nhớ chúng”.

4. “Máy ảnh làm bạn quên rằng chính bạn đang hiện diện ở sự kiện đó. Không phải là bạn đang ẩn mình trong sự kiện và mải mê tìm kiếm cái gì đó để chụp, mà bạn cần nhớ rằng mình cũng là một phần của sự kiện”.

5. “Chỉ cần 12 bức ảnh đẹp trong một năm cũng đã được coi là có một mùa ảnh bội thu”.

6. “Trong nhiếp ảnh, không có bóng tối nào không thể sáng soi”.

7. “Nhiếp ảnh chỉ có thể tái hiện hiện thực. Nhưng ngay khi được chụp, hiện thực đó sẽ trở thành một phần của quá khứ”.

8. “Ảnh phong cảnh có thể xuyên qua mọi biên giới chính trị và quốc gia, vượt qua mọi sự hạn chế về ngôn ngữ và văn hóa”.

9. “Một bức ảnh là một bí mật của bí mật. Nó càng thể hiện nhiều, bạn càng biết ít”.

10. “Nhiếp ảnh đối với tôi không phải là nhìn, mà là cảm. Nếu bạn không thể cảm nhận được những gì bạn đang nhìn, thì bạn sẽ không thể nào làm cho người xem cảm nhận bất cứ điều gì khi họ nhìn vào bức ảnh của bạn”.

11. “Biết trước bức ảnh sẽ chụp có nghĩa là bạn chỉ chụp ảnh bằng định kiến của riêng mình, vốn rất hạn chế và thường thất bại”.

12. “Học theo các nguyên tắc tạo hình trước khi chụp ảnh cũng giống như việc học luật hấp dẫn trước khi bước đi vậy”.

13. “Tôi thích chụp mọi người trước khi họ biết góc chụp nào của họ là tốt nhất”.

14. “Nhiếp ảnh là cách bạn phản xạ lại với những gì nhìn thấy, chứ không phải là thứ tiên liệu được. Bạn có thể nhìn thấy khung hình ở khắp mọi nơi. Vấn đề chỉ là làm sao nhận ra chúng và sắp xếp chúng. Bạn chỉ cần quan tâm về những gì xung quanh bạn với một chút nhân văn và hài hước”.



15. “Tôi không thấy thú vị việc chụp cái gì đó mới – Tôi thấy thú vị với việc nhìn thứ gì đó mới”.
16. “Nếu một nhiếp ảnh gia quan tâm đến người đứng trước ống kính và thực sự có lòng, bức ảnh sẽ nói lên được nhiều điều. Nhiếp ảnh gia lúc đó sẽ trở thành công cụ chứ không phải là chiếc máy ảnh”.

17. “Nghề nghiệp chụp ảnh chân dung của tôi là quyến rũ, giải trí và tiêu khiển”.

18. “Để chụp ảnh cần nín thở, tập trung tất cả bản năng vào việc nắm bắt khoảnh khắc của thực tế. Và chụp được một bức ảnh ở đúng thời điểm quyết định có thể đem lại sự thỏa mãn và vui thú cả về thể chất lẫn tinh thần”.

19. “Nếu được hỏi ảnh nào là ảnh tôi thích nhất? Câu trả lời sẽ là đó là bức tôi sẽ chụp vào ngày mai”.

20. “Đừng gói ghém máy ảnh khi bạn chưa rời khỏi hiện trường”.

21. “Tất nhiên là luôn có những người chỉ nhìn vào kỹ thuật, những người chỉ biết hỏi 'làm thế nào', trong khi những người khác, theo lý thông thường, sẽ hỏi 'tại sao'. Cá nhân tôi, tôi luôn muốn truyền cảm hứng vào những thông tin mình thể hiện”.

22. “Với nhiếp ảnh, tôi muốn tạo nên sự hư cấu từ thực tế. Tôi cố gắng làm điều đó bằng việc ghi nhận những quan niệm tự nhiên vốn có của xã hội, rồi sau đó tìm cách bẻ vẹo đi”.

23. “Có hai thể loại chụp chân dung, thứ nhất là chụp một bức ảnh chỉ để xem trông họ thế nào, thứ hai chụp một bức chân dung thể hiện họ thực sự là ai”.

24. “… Chúng tôi ở đó với máy ảnh nhằm ghi lại thực tế. Nhưng khi chúng tôi bắt đầu chỉnh sửa thực tế, chúng tôi biết rằng đã cướp đi khỏi nhiếp ảnh giá trị quý giá nhất”.

25. “Sẽ có lúc người ta ca ngợi tác phẩm của bạn là một cuộc cách mạng, nhưng vấn đề là bạn phải luôn làm những cuộc cách mạng như vậy. Tôi không thể chụp các ngôi sao cả đời. Bạn phải liên tục thay đổi, phải liên tục thúc ép mình tìm kiếm những điều mới mẻ, những thứ không bình thường”.

26. “Nếu bức ảnh của bạn chưa đủ tốt, chứng tỏ bạn đứng chưa đủ gần”.

27. “Con mắt phải học cách lắng nghe trước khi nhìn”.

28. “Bạn càng được xem nhiều ảnh, bạn càng dễ trở thành một nhiếp ảnh gia giỏi”.


29. “Nhiếp ảnh mở những cánh cửa vào quá khứ, nhưng chúng cũng mở ra cách nhìn về tương lai”.

30. “Nhiếp ảnh là những tiếng kêu dù nhỏ bé, nhưng đôi khi một bức ảnh hoặc một chùm ảnh có thể làm dấy lên sự quan tâm của cả công chúng”.


Thứ Sáu, ngày 24 tháng 1 năm 2014

TẬP GÌ NHẸ NHÀNG BUỔI SÁNG?

KHỞI ĐỘNG CÁC KHỚP

1) Xoay cổ tay đồng thời với cổ chân
2) LKhở động khớp cổ: xoay trái, phải, trước( gập đầu hết cỡ) , sau ( ngửa đầu hết cỡ) xoay vòng cả đầu, theo chiều kim đồng hồ va ngược lại
3)Các  khớp sống, khớp hông: nghiêng trái, phải, cúi, xoay trái phải
4) Khớp vai , khớp gối

KHỞI ĐỘNG CÁC NHÓM CƠ
1) Cơ bắp chân: Kiễng chân nhiều lần
2)  Cơ đùi trước: Đứng lên, ngồi xuống
3) Cơ đùi sau, cơ lưng, cơ mông: đá hất phía sau
4) Cơ đùi trước, cơ bụng, gập người,
5) Cơ cạnh sườn:  đá ngang
6) Cơ ngực vai: chống đẩy

KHỞI ĐỘNG VÙNG MẶT

1) Mắt: Liếc hai bên, trái, phải, trên dưới, xoay vòng. nhíu mày, nhước mày
2)Tai: chuyển động cơ tai. xoa nóng hai dái tai
3)Cơ nhai: cắn chặt răng, tập thể dục cho răng
4)Cơ lưỡi: xoay lưỡi trong miệng, miệng vẫn ngậm, dùng lưỡi đếm tất cả các răng
5)Dịch chuyển các hàm sang hai bên, di chuyển môi

KHỞI ĐỘNG BÀN TAY, BÀN CHÂN: Nắm duỗi các ngón, xoay toàn bộ bàn tay cổ tay, vuốt các ngón dọc theo đốt

Thứ Sáu, ngày 19 tháng 7 năm 2013

 Lightroom chỉnh sửa ảnh đơn giản hiệu quả

(Resume: Bạn muốn sử dụng một phần mềm phổ thông tân tiến nhất của Adobe để chỉnh sửa đôi chút bức ảnh  mình đã chụp được  mà không muốn học Photoshop vốn là một phần mềm chỉnh sửa ảnh quá toàn diện nhưng rất đỗi rắc rối, vậy thì bạn hãy đọc bài viết này, nó rất đơn sơ nhưng có lẽ có ích nếu bạn là người không có nhiều thời gian đến các lớp học đồ họa)
BẤM VÀO ĐÂY NẾU BẠN KHÔNG THÍCH NỘI DUNG NÀY

Phần mềm Lightroom (LR) dành cho những người chụp ảnh khá chuyên nghiệp, có hiểu biết sâu về các yếu tố của một bức ảnh kỹ thuật số ( KTS). Tuy nhiên, nếu chỉ là người chụp ảnh không chuyên cũng có thể sử dụng LR để tus lại  những bức ảnh mà mình chưa thật ưng ý sau khi chụp, hoặc cần nhấn mạnh điều gì đó trong bức ảnh của mình.
Trong bài này tôi muốn bạn trải nghiệm chứ không hề hướng dẫn bạn đặt các thông số chế độ như thế nào, bởi vì, cùng một chế độ tùy chỉnh , người thì cho là đẹp, người lại cho là chưa đẹp. Kinh nghiệm sẽ đến qua thực hành phải không bạn?

CẮT ẢNH THEO Ý MUỐN ( Crop ảnh)

Rất cần khi ta muốn bố cục lại ảnh cho đúng ý đồ. Bạn ấn phím tắt R ( Hoặc vào Tools bấm crop, Hoặc klick vào ô hình chữ nhật kẻ thành 9 ô nhỏ  bên dưới biểu đồ màu Histogram ), sau đó nhấn phím O máy sẽ lần lượt hiển thị các hình thức làm nổi bật chủ đề cho bạn. Từ những đường gióng theo quy tắc 1/3, đường xoáy ốc vào chủ điểm, đến  đường phong bì ( trường hợp có hai chủ đề). Chế độ crop tự do bạn chỉ cần dùng con chỏ dịch chuyển các đường giới hạn các biên, các  góc. Có thế xoay hình ( khi bạn nháy chuột ra phần cắt bỏ đi, máy sẽ hiện  mũi tên cong có hai đầu nhọn), dịch chuyển hình ( khi máy hiện hình bàn tay). Còn nếu muốn cắt ảnh theo tỷ lệ để đưa in ( ví dụ tỉ lệ 13:18) bạn cần nháy vào hai hình tam giác nhỏ cạnh chữ custom một cửa sổ hiện ra để bạn chọn tỷ lệ ( 7:5  nghe bạn,  đây là khổ in CP2 của các lab in ảnh ), hoặc cũng có thể gõ vào tỷ lệ theo ý mình ( nháy vào entercustom). Khi crop, bạn hãy theo dõi kết quả sẽ cắt ở ô Navigator  (*1) nhé.
Về kích thước ảnh in ở lab bạn xem phần cuối của  bài này    ( kích vào chữ bài này để đọc)



CHỈNH CÂN BẰNG TRẮNG: Về cơ bản, máy KTS của bạn để   WB ( Cân bằng trắng (CBT)) tự động rồi ( WBA). Nhưng trong một số trường hợp bạn muốn ảnh có màu sát hơn với thực tế, biểu cảm hơn với ánh sáng thực tế của thời điểm hôm đó, hoặc bạn đặt CBT theo ý mình trong kiểu ảnh trước ( chụp với đèn flash chẳng hạn) cứ vác máy ra chụp ngoài trời thành ra màu của bức ảnh trông không chấp nhận được; vả lại CBT tự động (WBA)  đôi khi cũng không thật chuẩn. Lúc ấy ta cần phải chỉnh CBT (WB)
Cách thứ nhất: Bạn chỉnh nhiệt độ màu ( thanh Temp ( nhiệt độ màu ) cùng với Tint  ( độ sai màu ) ) cho đến khi vừa ý. Nhớ là nếu trời tối, hoặc trong bóng râm, trời nhiều mây  thì tăng lên một chút, chỉnh Tint thì cứ thử chiêm nghiệm thấy đẹp là được)
Cách thứ hai: Cần nhớ hôm chụp ảnh, chi tiết nào trong ảnh là mầu trắng bạn dùng chiếc ống pipet có mực trắng cạnh chữ WB: dịch chuyển đến chỗ đó nháy vào rồi căn chỉnh một chút ở Tint

CHỈNH ĐỘ PHƠI SÁNG EXPOSURE:  ( Tất cả trong mục BAISIC )Dùng để cứu những bức ảnh chụp thừa sáng, hoặc thiếu sáng. Cũng cứu những bức ảnh đo sáng không đều, dẫn đến chỗ tối thì tối quá, đen như mực, không nhận biết được chi tiết gì hết, hoặc bức ảnh cháy chỗ nào cũng sáng quá vv và vv. Bạn cần quan sát trên Histogram. Căn chỉnh các thông số để các tam giác ở hai góc của ô Histogram đừng sáng trắng lên nhé. Nếu tam giác ở góc trên bên phải sáng lên, thì có nghĩa là ở vùng sáng sẽ có mất chi tiết. Còn tam giác bên trái sáng lên tức là các chi tiết ở vùng tối sẽ mất chi tiết. Trường hợp bạn cần làm tối  hình để nổi bật chủ để , hoặc làm cho nền trời xanh quyến rũ hơn bằng cách giảm sáng, hay tăng tương phản ( contrast ) bạn quên mất một số lùm cây trở nên đen kịt như người ta đánh đổ mực in vào, cũng như tóc người thì đen kít trông chẳng ra sao. Bên cạnh việc tăng giảm exposure bạn có thể tăng Recovery nếu vùng sáng mất chi tiết, hoặc tăng Fill light nếu vùng tối mất chi tiết. Đây là nói về tổng thể, còn từng khu vực bạn còn công cụ để chỉnh sáng tối một cách địa phương mà tôi sẽ nói sau. Ở bước này, bạn cũng cần quan tâm đến  các thanh trượt khác nữa như Brightness ( sáng tối ) , Contrass ( tương phản), Clarity ( độ chi tiết của ảnh chụp), màu sắc ( Vibrance và Saturation ).
Cũng có tùy chọn trong mục Tone Cuver giống như các phần mềm chỉnh sửa ảnh khác, nhưng nói chung trong phần BASIC bạn đã làm tốt thì phần này ít khi phải đụng đến vì bạn thấy đấy, các bức ảnh của máy KTS máy đã giải quyết tương đối tốt rồi. (*2)


CHỈNH ĐỘ SẮC NÉT VÀ LỌC NHIỄU(  Mục  DETAIL)
Ở đây có hai mục chính: Sharpening và  Noisereduction. 
Bạn cần kéo thanh trượt về bên phải để cho ảnh nét hơn. Khi đó nhớ quan sát  ô vuông hiển thị chi tiết trên đó, hoặc trong Navigator bạn chuyển vể chế độ xem ảnh 1:1 ; hoặc 1:2  dùng bàn tay để chuyển ô vuông hiển thị  vào nơi mà bạn lấy nét tiêu chuẩn. ( như bạn muốn nhụy hoa thật nét chẳng hạn).
Khi ta tăng độ nét , cũng là làm cho ảnh bị nhiễu hơn. Nhiễu có hai loại ( nhiễu hạt chi tiết ( Luminance) và nhiễu hạt mầu color). Và như vậy, bạn cần kéo tăng theo các thanh trượt ỏ các mục này để giảm nhiễu. Việc lọc nhiễu này rất cần khi ta chụp ở ISO cao từ trên 1600 ASA. Nhất là các bức ảnh chụp trong điều kiện thiếu sáng, các máy KTS cũng tự động tăng ISO lên.


Về cơ bản, fimware  của máy ảnh KTS compac cũng đã chỉnh  nét và khử nhiễu như thế. Một số máy của Sony rất nét, nếu đã vừa ý, bạn cũng đừng chỉnh chọt làm gì. Vả lại, đâu phải ảnh nét mới là ảnh đẹp. Quan niệm ảnh cứ phải thật nét nèn nẹt cũng nên xem lại. Còn về nhiễu ( noise) nếu kích thước ảnh nhỏ, chỉ dùng để chia sẻ trên mạng, thì bạn cũng chẳng cần phải quan tâm nhiều sau khi chỉnh  shapening vì ở cỡ nhỏ chẳng có thể trông thấy nhiễu, và giảm nhiễu thì đi đôi với mất chi tiết ảnh.(*3)


CÁC TỦY CHỈNH ĐỊA PHƯƠNG:
Spot removal:  Giống chức năng clone của photoshop ( Của FS, nhưng không tiện bằng) Dùng để sửa chữa, xóa bỏ nốt ruồi, hoặc chi tiết nhỏ không mong muốn.
Dùng con lăn của chuột để chọn kích thước phần định sửa chữa. Đè hình tròn con chỏ và vùng định xóa, nháy chuột, hình tròn thứ hai hiện ra, dùng con chỏ để kéo vòng tròn thứ hai  vào vùng chọn để sao chép vá đè vào vùng chọn ban đầu. Nhớ chọn kích thước nhỏ vừa đủ thôi nhé.
Red eye corection: Chỉnh hiện tượng mắt đỏ( bây giờ máy ảnh KTS nào cũng có chức năng này rồi, nên khỏi cần
Hai chức năng sau đây khi bạn chọn, máy sẽ hiện lên các Effect ( phơi sáng, lấy nét ( làm mờ) , màu sắc, chi tiết, vv) làm trắng răng, làm mịn da ( như da em bé) vv) nếu bạn chọn vào tam giác Custome)
Graduated filter : Chức năng thay đổi từ thấp đến cao và giảm dần một tiêu chí nào đó trên một vùng  mà nó quét ( phơi sáng, độ nét, màu sắc vv và vv).

Adjustmen Brush:  dùng bút ( cọ ) bôi quét để làm tăng, giảm một tiêu chí nào đó ( Nếu bạn chụp ngược sáng mà lại không tăng EV, mặt nhân vật tối đen, bạn có thể dùng Adjustment Brush để làm sáng gương mặt). Cũng dùng được khi một vùng nào đó của ảnh bị tối đen mất chi tiết. Hoặc một vùng nào đó bị sáng quá mất chi tiết mà ta không muốn chỉnh sửa tổng thể. Dùng các chức năng này, nên chọn mức độ thăm dò, vừa phải, đừng quá tay sẽ dẫn đến bức ảnh bị thiếu tự nhiên, mất logic.

Có lẽ bạn sẽ rất sốt ruột vì mình chưa thể đưa ảnh vào để thực hành phải không? Vậy bạn hãy đọc phần sau đây nhé:


NHẬP ẢNH ĐỂ CHỈNH SỬA ( IMPORT) VÀ XUẤT ẢNH SAU KHI CHỈNH SỬA ( EXPORT)

Với người mới đầu học LR  thì khó chịu nhất là nhập ảnh vào sửa trong LR.
Nhập ảnh vào:
Khi mới khởi động màn hình sẽ như thế này:


Bạn nhấn vào nút Import ( bên trái ).
Chờ một chút, thấy  ở cột bên trái hiện ra cây thư mục, chọn nháy vào các nhánh đến thư mục chứa ảnh cần chỉnh sửa. Nếu ta nháy vào, coi như máy sẽ nhập tất tần tật các ảnh trong thư mục đó. Vì thế, kinh nghiệm của tôi là các ảnh nào cần sửa thì ta copy vào một thư mục có tên để một chỗ trong ổ D rồi Import từ đó. Chớ Import vào thẻ nhớ máy sẽ dốc cả thẻ nhớ vào Library đấy nhé. Nên khi tìm chiếc ảnh mình cần, thì chẳng khác nào lục tủ sách.
Chờ một lúc, các ảnh được nhập vào sẽ hiện mờ mờ cỡ nhỏ ở khung giữa. Nếu máy ngừng lại ta có thể nhấn nút Import ở phía tay phải phía dưới
Các ảnh chờ để chỉnh sửa sẽ hiện nhỏ ở thanh phía dưới màn hình như một cuộn phim
Bạn có thể nháy vào nút tam giác quay xuống để hide các ảnh này và cũng nút tam giác đó để hiện.

Một ảnh đã sửa rồi, thì nó trong Library, bạn không thể import nó thêm một lần nào nữa. Muốn sửa nó, bạn phải vào cuốn phim phía dưới, chọn nó, vào mục History để quay lại bước mà bạn thấy cần bắt đầu từ đó. Tôi ghét điều này nhất.

Sau khi bạn đã nhập ảnh rồi, muốn sửa ảnh, bạn nhấn vào Develop để bắt đầu làm việc. Nhớ theo từng bước như trên nhé: Cắt, chỉnh Basic , Chỉnh nét và noise; sau đó chọn hiệu ứng đặc biệt trong Effect. ( tôi sẽ trình bày sau).

Xuất ảnh ra: 
 Bạn vào mục export ( trong  mục file) hoặc bấm phím tắt ( Ctrl+shift + E) sẽ mở ra cửa sổ xuất ảnh

Ở đây bạn sẽ chọn nơi để xuất ảnh ở mục export to, bạn chọn nút Choose để tìm nơi cất giấu ảnh trong các phân vùng ổ cứng của bạn, hoặc thậm chí trong USB.
Tiếp theo là đặt tên cho file ảnh, nếu lần trước bạn đã đặt tên cho ảnh lần trước, máy sẽ nhắc lại tên đó. Bạn cần chọn một tên khác nếu không muốn ghi đè mất ảnh trước
Để ghi tên của mình vào góc ảnh, bạn vào mục watermarking, vào watermark: chon kiểu đã đặt từ trước, hoặc mặc định, hoặc bạn làm từ đầu chữ ký của bạn( Bấm nút tam giác quay xuống). Vậy bạn hãy vào Edit warter mark, lúc đó máy sẽ hiện một cửa sổ cho phép bạn chọn phông chữ này, vị trí để dặt chữ ký này, kích cỡ tỷ lệ của chữ ký so với ảnh này vv và vv. Sau khi lựa chọn, bạn đặt tên cho kiểu chữ đó là A, B  hay C gì đó, rồi thoát ra, từ nay muốn có chữ ký điện tử vào ảnh bạn cứ vào Mục Warter marking chọn kiểu A, B, hay C đó là xong, sau đó nhấn nút  Export. Thế là bạn đã có bức ảnh OK rồi. Chú ý nên chọn vài kiểu vị trí chữ ký trên ảnh, kẻo có khi chữ ký lại vào đúng vị trí nhạy cảm trong  bức ảnh thì ... toi.

SỬ DỤNG EFFECT
Chức năng Effect cho phép ta có thể làm cho xung quanh ảnh tối hơn hoặc sáng hơn làm cho trung tâm bức ảnh được nổi bật hơn. Ngoài ra còn một số chức năng khác như làm nổi hạt sạn bức ảnh trông như bức ảnh tư liệu cũ vv và vv
Để làm sáng, hoặc tối viền xung quanh ảnh, bạn hãy dùng chức năng Postcrop Vignetting, có 3 style: Highlight priority ( tối sáng) ; Color Priority ( mầu sắc) ; Paint Overlay ( mức độ tranh vẽ) nhưng tác dụng cũng na ná như nhau. Bạn dịch chuyển con chạy Amount sang trái làm tối viền ảnh, sang phải nếu muốn làm sáng viền ảnh ( trung tâm sẽ là một vùng sáng hình tròn hoặc trái xoan), bạn cũng thử điều chỉnh Midpoint mà xem , khi ấy vùng sáng trung tâm sẽ rộng ra hoặc thu hẹp lại.
Để làm ảnh nổi hạt sạn, bạn vào mục  Graint  cũng dịch chuyển Amount để chọn mức độ, dịch chuyển Size để tăng giảm kích thước hạt sạn vv, bạn hãy cứ thử nghiệm nhé.

( Bài viết còn  liên tục cập nhật, nếu có thời gian, bạn có thể nháy vào các mục trên thanh công cụ mầu sáng trên cùng: file, edit , develop , ... và trải nghiệm, ở đó cũng có các hướng dẫn phím tắt  cho các chức năng )

CHÚ THÍCH:
(*1) NAVIGATOR: Vị trí ngay dưới chữ Lightrom mầu trắng, góc trên, bên phải, có nút tam giác bên cạnh, nếu quay ngang thì đóng, nếu quay đầu nhọn xuống dưới thì mở. Navigator cho ta nhìn được ở kết quả chỉnh sửa ở một cửa sổ nhỏ, nếu muốn xem lớn bạn phải xem ở ô chính giữa, ô làm việc. Ở Navigator, bạn có thể tùy chỉnh kích thước ảnh hiện trong ô làm việc với các chế độ: FIT ; FILL;  1: 1 ; 1: 3  và vân vân nếu bạn nháy vào chỗ có hai tam giác giáp đáy vào nhau.

(*2) Mẹo: Nếu làm thật tinh ta có thể chuyển ảnh sang chế độ đen trắng: Ở mục Treatment có hai tùy chọn: Color ( mầu ) hoặc  Black & White. Khi ta chuyển sang chế độ Black & white có thể nhìn nhận  độ chi tiết, tương phản, sáng tối một cách tổng thể hơn, sau đó lại chuyển sang Color để chỉnh tiếp. Đặc biệt xuất ảnh  ở chế độ này, ta được một ảnh đen trắng. Đôi khi một bức ảnh đen trắng cũng đẹp phải không?

(*3)Sharpness: Thực chất chỉnh nét là chỉnh độ tương phản ở ria chi tiết với vùng xung quanh. Nếu máy ảnh lấy nét không đúng thì cũng bó tay mà thôi. Một bức ảnh nét quá sẽ mất độ sâu của ảnh, trông không có cảm giác hình nổi lên, bong lên chi tiết. Các máy compact thường rất nét, " chỗ nào cũng nét " đó cũng là điểm yếu của chúng. Một  đôi tượng có chi tiết gần máy quá thì mờ, xa máy ảnh cũng mờ, chỉ một số vùng đúng nét mới nét, khi ấy bức ảnh mô phỏng được chiều sâu trường ảnh của con mắt người, nên ta thấy ảnh nổi lên và thật hơn. Nếu chỗ nào cũng nét thì bức ảnh sẽ gần với tranh dân gian Đông Hồ hơn.



Thứ Ba, ngày 14 tháng 5 năm 2013

HOA THIẾT MỘC LAN



Thiết mộc lan nhà mình bỗng ra hoa, khi thấy mùi thơm sực nức mới để ý. Xin lỗi Thiết mộc lan nhé, đã lâu không để ý tới cây vì bận quá. Những cánh hoa và mùi thơm này nhắc người vô tâm, Thường thì Thiết mộc lan ít ra hoa lắm. Cứ mỗi lần ra hoa, lại có một sự kiện vui mừng. Lần này là sự kiện gì đây?



Chúc con trai của bố lên đường may mắn, thuận lợi chinh phục được những đỉnh cao mới ở miền đất mới!

Click vào Đây để về MỤC LỤC

Thứ Ba, ngày 12 tháng 3 năm 2013

Chỉnh sửa sự méo dạng ảnh bằng CaptureNX2

Đôi khi ta chụp một bức ảnh khi xem lại thấy không hiểu sao một số hình ảnh ở rìa ảnh, đặc biệt ở góc ảnh bị méo mó, biến dạng. Lỗi đó là do ống kính tạo ra. Cách khắc phục thông thường nhất là đừng có lấy gạn quá các hình ảnh ở rìa ảnh, hoặc khi chụp nên lấy hình ảnh trọn vẹn vào sâu trong khung ngắm. Nhất là các bức ảnh chụp tập thể, cần lùi xa đủ độ, để toàn bộ khối người vào trong khung chừa ra một cách thích đáng khu vực rìa ảnh là nơi bị méo dạng khá nhiều. Tuy nhiên, nếu không đủ chỗ lùi khi bấm máy thì sao? Khi đó cần chụp với góc rộng 18mm - 35mm thì mới hết được khung cảnh. Lúc đó, ở góc ảnh càng bị méo dạng nhiều. RẤT MAY LÀ CAPTURE NX2  có thể giúp ta khắc phục hiện tượng này.

Bạn click vào đây nếu không thích chuyên mục này

Ví dụ bức ảnh sau: chụp bới ống kính góc rộng nên hình ảnh cô gái ở góc ảnh trên bên phải  bị méo nghiêng:
Ta vào new step , select  adjustment ,  bấm tam giác màu đen quay xuống, một cửa sổ bung ra, chọn correct vào Distortion control . Sau đó dịch chuyển con chạy theo hai chiều ngược nhau cho đến khi thấy không còn méo dạng nữa thì thôi. Mặc định có thể tăng đến 100+  và giảm đến 100-. Trong trường hợp này tôi chọn -46. Và được tấm ảnh sau:
Khi ấy, hai đầu của bức ảnh bị kéo móp vào, thôi đành phải crop lại thôi
Và bây giờ thì ổn rồi, phải không?
Còn đây là màn hình làm việc:


Click vào đây để quay về mục lục

Thứ Hai, ngày 11 tháng 3 năm 2013

HỆ THỐNG CÁC KÝ HIỆU KỸ THUẬT TRÊN CÁC ỐNG KÍNH MÁY ẢNH KỸ THUẬT SỐ


Thuật ngữ, ký hiệu trên Ống kính máy ảnh số
Topic tra cứu các ký hiệu riêng của Máy ảnh, Ống kính do PhotoKing sưu tầm nhằm giúp các bạn có thể hiểu sâu hơn về các trang thiết bị này và chọn mua Máy ảnh, Ống kính phù hợp với nhu cầu sử dụng

Bạn click vào  đây   nếu không thích bài viết này

Thuật ngữ - Ký hiệu trên ống kính Canon

 L (luxury)
Các ống kính có ký hiệu L đều thuộc dòng ống kính sang trọng của Canon. Đây là những ống kính chất lượng tốt nhất của Canon và được chế tạo phục vụ giới nhiếp ảnh chuyên nghiệp và các tay chơi sành điệu. Các ống L cho chất lượng ảnh cao, tự động căn nét nhanh, cấu tạo chắc chắn và chịu được thời tiết xấu do có các lớp keo gắn bảo vệ (tất cả các ống Canon sản xuất sau 1999 đều có keo gắn) 

IS (image stablizer)
Ống có ký hiệu IS có chức năng chống rung do rung tay máy và cho phép chụp ở tốc độ chậm hơn thông thường 2-3 bước. Canon tuyên bố các ống kính chống rung IS thế hệ mới nhất cho phép chụp chậm hơn tới 4 bước. IS là một chức năng hết sức quan trọng giúp ảnh không bị mất nét. 

USM (ultra-sonic motor)
Các ống kinh USM có gắn mô-tơ siêu âm. Đây là điểm quan trọng giúp căn nét tự động nhanh và phục vụ hữu hiệu căn nét hoàn toàn bằng tay. Có 2 loại ống USM: Một loại có vòng USM chất lượng tuyệt hảo và loại kia là ống micro-USM chất lượng kém hơn nhiều. Hầu như tất cả các ống L USM đều sử dụng vòng USM, còn các dòng ống không có ký hiệu L, đặc biệt là các ống có giá thấp, đều sử dụng micro-USM 

DO (diffactive optic)
Canon có hai loại ống kính sử dụng chi tiết thấu kinh DO là ống 70-300mm f/4.5-5.6 DO và ống 400 f/4 DO. Các ống này nhẹ và nhỏ hơn các ống không sử dụng chi tiết thấu kính DO, nhưng có giá rất cao còn chất lượng lại chưa thực xứng đáng với giá tiền. Các ống kính siêu tele mới công bố của Canon không sử dụng chi tiết thấu kính DO và có vẻ như Canon đã từ bỏ công nghệ này của hãng.

EF (Electro-focus)
Các ống kính EF có cơ chế căn nét tự động với mô tơ điện tử tinh vi gắn ngay trong ống kính. Tất cả thông tin giữa ống kính và thân máy được thực hiện thông qua các chân tiếp xúc điện tử. Các ống EF của Canon có ngạnh gá phù hợp với tất cả các thân máy dòng EOS của Canon. 

EF-S (Electro-Focus - Short back focus)
Các ống EF-S được thiết kế dành riêng cho các loại máy ảnh số gắn cảm biến APS-C (Advanced Photo System type-C), ví dụ như chiếc 40D và 400D. Các ống này không thể sử dụng với các thân máy toàn khổ (full frame - FF) và dòng APS-H do ống có các chi tiết thấu kính có thể làm hỏng gương của thân máy FF. Hơn nữa, khuôn hình chỉ vừa đủ cho các cảm biến APS. Công nghệ thấu kính sau gần hơn (S = short back focus) - thấu kính phía sau của ống kính được bố trí gần với cảm biến hơn cho phép sản xuất các ống kính góc rộng hơn và nhẹ hơn và giá thành rẻ hơn. 

TS-E (tilt and shift)
Các ống trượt nghiêng cho phép làm chủ chiều sâu và góc máy. Hiện nay chỉ có 3 loại ống TS-E là ống 24mm, 45mm và 90mm. Ống 24mm TS-E là ống duy nhất có ký hiệu L. Các ống kính TS-E này là các ống kính được thiết kế đặc biệt cho chụp kiến trúc nhưng chiếc 24mm có thể sử dụng chụp phong cảnh. Khác với các ống MP-E, đây là các ống không có chế độ căn nét tự động mà chỉ là các ống căn nét tay EF. 

MP-E (macro-photo)
Ống MP-E được thiết kế đặc biệt để chụp marco (chụp phóng đại ong bướm kiến, v.v…). Đây là loại ống duy nhất hiện nay có khả năng lấy cận cảnh lên tới tỷ lệ 5:1 mà không cần ống gắn dài và các thiết bị khác. Ống này không có đối thủ của Nikon, Sony và Olympus. Mặc dù vậy, ống này không được liệt vào chủng loại L. Ống này có cấu tạo chắc chắn và chất lượng ảnh chuyên nghiệp. 

I, II, III, v.v…:
Đây là ký hiệu chỉ đời ống kính. Đối khi các ống của Canon được nâng cấp nhưng vẫn cùng đời. Nhiều cải tiến thực sự không nổi bật lắm, chẳng hạn không có sự khác biệt lắm giữa ống 85mm f/1.2 L và ống 85mm f/1.2 L II. Tuy nhiên, có nhiều cải tiến nâng cấp lại rất ấn tượng, chẳng hạn như ống đời mới 14 f/2.8 II cho hình ảnh chất lượng hơn nhiều so với đời đầu 14 f/2.8 I.

 ------------------------------------------------------------------------------------------- 


Thuật ngữ - Ký hiệu trên ống kính Nikon

 AF (Auto Focus)
Ống kính có cơ chế căn nét tự động


AF-I (Auto Focus Internal)
Ống kính tự động căn nét có gắn mô-tơ bên trong, sử dụng trên các ống tele tầm xa. Bắt đầu được sản xuất 1992 và được thay thế bởi dòng AF-S vào 1996.

AF-S (Auto Focus Silent)
Ống kính tự động căn nét (autofocus) có gắn mô-tơ sóng từ SWM giúp căn nét nhanh và êm.


CPU (Central Processing Unit)
Các ống CPU (bộ xử lý trung tâm) có gắn các chân điện tử nối với thân máy để trao đổi dữ liệu với thân máy. Ký hiệu này chỉ được ghi trong bảng thông số kỹ thuật mà không được ghi trên thân ống kính. Tất cả các ống kính căn nét tự động của Nikon đều là ống CPU.


ED (extra-low dispersion)
Kính ED (extra-low dispersion) - kính có độ tán xạ cực thấp - là một yếu tố quan trọng trong công nghệ sản xuất ống kính chụp xa (telephoto) của Nikon. Kính ED được sử dụng chế tạo các loại thấu kính / ống kính cho độ sắc nét cực cao và hiệu chỉnh màu sắc trung thực thông qua việc giảm biến dạng màu sắc (sắc sai).
Kính ED do Nikon phát minh ưu việt hơn nhiều so với công nghệ xử lý sai sắc trước đây bằng flo-rít (flourite), làm tăng tuổi thọ chất lượng của ống kính. Kính ED có nhiều loại phục vụ các mục đích chế tạo ống kính khác nhau. Các ống kính ED cho độ nét và tương phản cao ngay cả ở khẩu độ mở lớn nhất.


SIC (super-integrated coating)
Lớp phủ ống kính siêu tích hợp SIC (super-integrated coating) bảo đảm các tính năng vượt trội của ống kinh Nikon. Để tăng tính năng của các chi tiết thấu kính quang học, Nikon đã áp dụng công nghệ lớp phủ bề mặt nhiều lớp đặc biệt làm giảm thiểu các nhược điểm của ống kính như lóa và ma nhòa (flare/ghost)
Lớp phủ đa tích hợp đa tầng của Nikon cho phép cải tiến ống kính ở nhiều mặt trong đó có giảm phản xạ ở một dải rộng các bước sóng ánh sáng và tạo cân bằng màu sắc cực kỳ tốt. Lớp phủ SIC đặc biệt có tác dụng với các loại ống kính có nhiều chi tiết thấu kính như các ống zoom chẳng hạn. Nikon cũng đặc biệt cẩn thận chế tạo riêng từng loại lớp phủ SIC khác nhau cho các loại ống kính khác nhau để bảo đảm chất lượng của từng loại ống kính.


N (nano crystal coat)
Lớp phủ N (nano crystal coat) là một lớp phủ chống phản xạ đầu tiên được giới thiệu trong các thiết bị sản xuất bán dẫn NSR-series (Nikon step and repeat) của Nikon. Lớp phủ này triệt tiêu gần như hoàn toàn hiện tượng phản xạ ở các thấu kính bên trong ống kính đối với một dải rộng các bước sóng ánh sáng và đặc biệt đem lại hiệu quả cao trong việc triệt tiêu các hiện tượng lóa và ma nhòa, nhất là ở các ống cực rộng. Lớp phủ N bao gồm nhiều lớp phủ có độ tán xạ cực thấp các hạt trong suốt cực mịn có kích thước nano (1 nano = 1/1.000.000 mm), là niềm tự hào của công nghệ sản xuất ống kính Nikon.


ASP (aspherical lens element)
Ống kính/ thấu kính chống cầu sai (aspherical lens element). Năm 1968 Nikon bắt đầu sản xuất các ống kính chống hiện tượng cầu sai (spherical aberration). Các ống kính sử dụng công nghệ chống cầu sai có thể triệt tiêu gần như hoàn toàn hiện tượng coma và các hiện tượng biến dạng khác của ống kính. Nikon áp dụng 3 loại thấu kính chống cầu sai: Mài chính xác, lai (kết hợp kính và plastic) và đúc.


CRC (close-range correction system)
Hệ thống điều chỉnh sai số căn nét cự ly gần (close-range correction system) là một trong những phát minh quan trọng nhất về công nghệ căn nét của Nikon, tạo điều kiện cho nhiếp ảnh gia chụp được những bức ảnh chất lượng miễn chê ở cự ly gần và cũng tăng cự ly căn nét. Với công nghệ CRC các chi tiết thấu kính được thiết kế theo dạng “trượt” theo đó các nhóm thấu kính di chuyển tự do để giúp căn nét chính xác. Hệ thống CRC được sử dụng trong các ống kính mắt cá, ống rộng, micro và một số ống tầm trung của Nikon/Nikkor.


IF (internal focusing)
Công nghệ căn nét trong (internal focusing) của Nikon cho phép căn nét mà không làm thay đổi kích thước của đối tượng được chụp ảnh. Tất cả các chuyển động quang học bên trong được giới hạn trong phạm vi chiều dài ống kính. Điều này cho phép chế tạo các ống kính gọn nhẹ hơn cũng như khả năng có thể căn nét ở cự ly gần hơn, và hơn nữa còn cho phép căn nét nhanh hơn. Hệ thống căn nét trong IF được sử dụng ở hầu hết các loại ống tele và nhiều loại ống khác của Nikon.


RF (rear-focusing)
Với hệ thống căn nét sau (rear-focusing) của Nikon, các thấu kính trong ống kính được chia ra làm nhiều nhóm và chỉ các nhóm phí sau ống được di chuyển khi căn nét. Điều này làm cho quá trình căn nét tự động nhanh nhẹ hơn.


DC (defocus-image control)
Các ống kính AF-DC Nikkor của Nikon sử dụng công nghệ kiểm soát mất nét (defocus-image control) cho phép nhiếp ảnh gia làm chủ mức độ cầu sai đối với các đối tượng tiền cảnh và hậu cảnh (trước và sau đối tượng chụp chính) thông qua động tác xoay vòng DC trên ống. Tính năng này cho phép tạo các vòng tròn nhòe mờ mất nét (bokeh) lý tưởng cho chụp ảnh chân dung nghệ thuật. Ngoài ống của Nikon, không một loại ống kính nào trên thế giới có chức năng đặc biệt này.


D (distance information)
D là ký hiệu về thông số khoảng cách (distance information). Các loại ống loại D và G (D-type & G-type) của Nikon thông báo cho thân máy có chế độ AF về cự ly khoảng cách từ đối tượng chụp tới máy ảnh. Điều này tạo thuận lợi cho cơ chế đo ma trận 3D và cân bằng đèn flash đa cảm biến 3D.


G (gelded)
Ống kính G (gelded) của Nikon không có vòng điều chỉnh khẩu độ mở riêng biệt và được sử dụng trên máy tự động. Khẩu độ mở sẽ được điều chỉnh trên thân máy. Khi lắp ống G, cần quay ống về khẩu độ nhỏ nhất (chỉ số f-number lớn nhất), thường là vạch đánh dấu màu đỏ để chuyển ống kính sang chế độ tự động.


SWM (silent wave motor)
Công nghệ mô-tơ sóng từ không tiếng động (silent wave motor) trong các ống kính AF-S của Nikon sử dụng “sóng từ” chuyền năng lượng sinh công xoay chỉnh thấu kính để căn nét. Điều này cho phép căn nét tự động nhanh hơn, chính xác hơn và không gây ra tiếng động, một trong những lý do khiến các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp lựa chọn các ống tele của Nikon.


M/A
Nút chuyển giữa chế độ cơ tay và tự động trên các ống AF-S của Nikon.


VR (vibration reduction)
Các ống kính có ký hiệu VR là các ống kính có gắn hệ thống chống / giảm rung (vibration reduction) của Nikon. Hệ thống này giảm hiện tượng nhòe ảnh do rung tay máy và vì vậy còn làm tăng cơ hội tăng tốc độ cửa chập nhanh thêm 3 quãng nữa (tức là 8 lần), cho phép cầm máy chụp trong các điều kiện môi trường ánh sáng tối hơn như mây mù, trong nhà dễ dàng hơn. Ống kính VR sẽ tự động phát hiện khi người chụp rung tay và tự điều chỉnh mà không cần phải chuyển máy sang một chế độ nhất định nào.


DX
Ống kính DX cấu tạo gọn nhẹ được thiết kế cho các máy ảnh có bộ cảm biến DX ( cúp nhỏ 24×16 mm) của Nikon - bao gồm D60 (2008), D300 (2007), D200 (2005), D80 (2006), D70 (2004), & D70s (2005), D50 (2005), D40 (2006), & D40x (2007), D2Xs (2006), D2X (2004), D2H (2003), & D2Hs (2005), D100 (2002), D1X & D1H (2001), D1 (1999). Đây là giải pháp lý tưởng cho những ai chơi thân máy DX muốn chụp phong cảnh rộng.


 -------------------------------------------------------------------------------------------


Thuật ngữ - Ký hiệu trên ống kính Tamron



 XLD ( Extra Low Dispersion)

Thấu kính tán xạ siêu thấp, được làm từ vật tư cao cấp, mang lại đột phân giải tốt nhất.



 USD (Ultrasonic Silent Drive)

Là một phát minh độc quyền của Tamron về hệ thống lấy nét được trang bị Môtơ lấy nét siêu êm - không gây tiếng ồn và lấy nét nhanh hơn.

 


LD (Low Dispersion)



Là thấu kính với độ tán xạ thấp, giúp giảm thiểu hiện tượng quang sai màu, cho hình ảnh sắc nét.

 


SP (Super Performance Series)



Dòng ống kính cao cấp có tính năng siêu việt sử dụng vật liệu tốt, bền chắc hơn và cho ra ảnh đẹp hơn.

 


IF (Internal Focus)



Là hệ thống lấy nét bên trong (hệ thống lens di chuyển lấy nét tự động và chuyển động hoàn toàn kín bên trong thân của ống kính).

 


XR (Extra Refractive Index)



Công nghệ sử dụng thủy tinh chiết suất cao. Thường đặt ở phía xa của ống kính và thay cho một nhóm các thấu kính ban đầu, làm giảm độ dài chung của cả ống kính. Do giảm số thấu kính và chiều dài ống nên cho phép làm ra các thấu kính f/2.8 có chiều dài ngắn hơn và đường kính nhỏ hơn so với công nghệ thường.

 


ASL (Aspherical)

Là thấu kính được trang bị thêm bên trong hệ thống lens, giúp cho hình ảnh sắc nét, không bị suy giảm chất lượng, giảm thiểu tình trạng mất nét ở rìa bức ảnh và hạn chế tối đa sự khác biệt độ nét giữa tâm và rìa bức ảnh.

 

Di (Digitally Intergrated Design)

Ống kính có thiết kế quang học phù hợp với tính năng hoạt động của dòng máy ảnh kỹ thuật số sử dụng sensor Full frame và máy ảnh chụp phim.


Di-II (Digitally Intergrated Design II)



Ống kính có thiết kế quang học phù hợp với tính năng hoạt động của dòng máy ảnh kỹ thuật số sử dụng sensor Crop.

VC (VC Vibration Compensation)

Cơ chế chống rung, sẽ giúp cho bạn dễ dàng khi chụp ảnh ở điều kiện ánh sáng thấp và giữ ổn định hình ảnh khi bạn cần chụp ảnh tầm xa.

AD (Anomalous dispersion)

Anomalous dispersion: là một loại kính đặc biệt giúp phân tán những ánh sáng bất thường không tốt (trong dải bước sóng mà con người có thể nhìn thấy được) gây suy giảm chất lượng hình ảnh đến sensor ghi hình. Việc kết hợp thấu kính AD với những thấu kính khác trong cùng một hệ thống thấu kính của lens giúp cho việc kiểm soát và phân tán các tia sáng bất thường này đạt hiệu quả rất cao về xử lý sai màu sắc trong ống kính tele và các ống kính góc rộng.


--------------------------------------------------------------------------------------------

 Thuật ngữ - Ký hiệu trên ống kính Sigma 

ASP (Aspherical)

Thấu kính “gần như phẳng” chống cầu sai. Ống kính loại này đặc biệt thiết
kế với các thấu kính có khả năng chống hiện tượng cầu sai và các sai số khác của
ống kính, đồng thời cho phép chế tạo các ống kính gọn nhẹ hơn và ngắn hơn.



APO (APOchromatic lens elements)

Ống kính APO sử dụng các thấu kính có độ tán xạ thấp cho phép nâng cao
chất lượng hình ảnh và giảm thiểu hiện tượng sắc sai.



CONV (CONVerter usable)

Các loại ống kính này có thể sử dụng với khẩu nối APO Teleconverter EX
của Sigma để tăng tầm tiêu cự của ống mà ống vẫn có thể phù hợp với các chức
năng phơi sáng tự động của máy ảnh.



DC (Digital Crop)

Ống kính có ký hiệu này được chế tạo đặc biệt để sử dụng với thân máy gắn
cảm biến cúp nhỏ APS-C; và chỉ sử dụng được với loại thân máy này.



DF (Dual Focus)

Cơ chế căn nét hai nấc (2 chức năng) có tác dụng thả lỏng vòng điều chỉnh
căn nét khi chuyển sang chế độ căn nét tự động, tránh vặn nhầm gây hỏng hóc.



DG (Digital Group - ?)

Ống kính có lớp phủ bề mặt thấu kính được cải tiến phù hợp cho thân máy
kỹ thuật số toàn khổ (và máy KTS nói chung). Đây thường là các ống kính có
khẩu độ mở lớn và cự ly (khoảng cách) căn nét tối thiểu nhỏ.



EX (Extra Quality/Excellence)

Ống kính có lớp vỏ ngoài được chế tạo với chất lượng cao, thể hiện đẳng
cấp chất lượng hình ảnh, cấu tạo của ống và làm tăng vẻ đẹp cho ống kính.



HF (Helical Focusing)

Ống kính có cơ chế căn nét “xoắn”, giúp phần trước của ống không xoay
khi căn nét.



HSM (Hyper Sonic Motor)

Ống kính có mô-tơ siêu âm (mô-tơ chống ồn), giúp căn nét nhanh và không

gây tiếng ồn.



IF (Inner Focus)

Cơ chế căn nét trong. Ống kính IF căn nét thông qua chuyển động bên
trong của các thấu kính, không làm tăng chiều dài ống khi căn nét.



RF (Rear Focus)

Căn nét sau. Ống kính căn nét thông qua các chuyển động của các thấu kính
nằm phía sau ống, giúp căn nét chính xác và nhanh hơn, đồng thời không ồn.



OS (Optical Stabiliser)

Ống kính có chức năng chống rung (ổn định hình ảnh) nhằm giảm tác động
của việc rung tay máy, tạo khả năng giảm tốc độ cửa chập.



UC (Ultra Compact)

Cực gọn. Ống kính được chế tạo nhỏ gọn (so với tầm tiêu cự)


--------------------------------------------------------------------------------------------

 Thuật ngữ - Ký hiệu trên ống kính Pentax



* (Star / Dấu sao)

Ống kính hạng sang, chất lượng tốt của Pentax



A

Ống kính tự động điều chỉnh khẩu độ mở đời đầu, căn nét thủ công



AL (Aspherical Lens)

Ống kính có sử dụng thấu kính chống cầu sai “gần như” phẳng (aspherical)
nhằm tăng cường chất lượng hình ảnh và độ nét



DA

Ống kính kỹ thuật số, không có vòng điều chỉnh khẩu độ, có lớp phủ thấu
kính phù hợp máy KTS và có cấu trúc cải tiến



DA*

Ống kính (có dấu sao) chất lượng cao, chống chịu ảnh hưởng thời tiết xấu
và có gắn mô-tơ SDM siêu âm chống ồn



D-FA

Ống kính kỹ thuật số có vòng điều chỉnh khẩu độ, có lớp hủ thấu kính phù
hợp máy KTS và có cấu trúc cải tiến



ED

Ống kính có thấu kính làm bằng chất liệu kính có độ tán xạ thấp nhằm giảm
thiểu sắc sai



F

Ống kính tự động căn nét và tự động khẩu độ mở đầu tiên của Pentax



FA

Ống kính tự động căn nét và khẩu độ đời thứ 2, có gắn vi mạch



FA-J

Ống kính tương tự như ống FA nhưng không có vòng điều chỉnh khẩu độ

FREE (Fixed Rear Element Extension)

Ống kính có nhóm thấu kính phía sau ống cố định, không di chuyển trong

quá trình căn nét



IF

Ống kính có cơ chế căn nét trong, giúp không thay đổi chiều dài vỏ ống khi
căn nét



K

Ống kính thế hệ gá lắp đời đầu, căn nét và điều chỉnh khẩu độ mở thủ công



Limited

Ống kính chất lượng thượng hạng, cấu trúc tinh xảo làm thủ công bằng tay
và cung cấp với số lượng có hạn



M

Ống kính thế hệ gá lắp đời thứ 2, nhỏ hơn đời đầu K, căn nét và điều chỉnh
khẩu độ mở thủ công



PZ (Power Zoom)

Ống kính có độ zoom lớn, và chức năng zoom điện tử, chỉ lắp được cho
thân máy đời Z FSLR và thân kỹ thuật số K10D của Pentax



Quick Shift

Ống kính có khóa chuyển đổi nhanh giữa chế độ căn nét thủ công và tự
động



SDM (Super Direct-drive Motor)

Mô-tơ siêu âm chống ồn, giúp căn nét nhanh và chính xác



SMC (Super Multi-Coated)

Công nghệ lớp phủ ngoài thấu kính chất lượng cao của Pentax



WR (Weather Resistant)

Ông kính có vỏ gắn kín, bền, chống chịu được thời tiết xấu


--------------------------------------------------------------------------------------------

 Thuật ngữ - Ký hiệu trên ống kính Tokina



AS (Aspherical)

Thấu kính “gần như phẳng” chống cầu sai. Ống kính loại này đặc biệt thiết
kế với các thấu kính có khả năng chống hiện tượng cầu sai và các sai số khác của
ống kính, đồng thời cho phép chế tạo các ống kính gọn nhẹ hơn và ngắn hơn.



AT-X (Advanced Technology eXtra)

Các ống kính được chế tạo với thiết kế khắt khe nhất, không “hy sinh” chất
lượng và sử dụng các công nghệ thiết kế và chế tạo tiên tiến nhất.



D (Digitally optimized coatings)

Lớp phủ thấu kính tối ưu hóa cho máy kỹ thuật số gắn cảm biến thay bản
phim.



DX (Digital eXtended)

Ống kính chế tạo dành riêng cho thân máy gắn cảm biến cúp nhỏ APS-C.



F&R (Front and Rear aspherical)

Ống kính có các thấu kính chống cầu sai dạng đúc bố trí cả phía trước và
phía sau thân ống.



FC (Focus Clutch)

Ống kính có lẫy chuyển đổi từ căn nét tự động sang căn nét thủ công - và
ngược lại - chỉ với một thao tác duy nhất.



FE (Floating Element)
Ống kính có thấu kính trôi - nhằm chống rung (???)



HLD (High Refraction, Low Dispersion)

Ống kính có các thấu kính chiết xuất cao, tán xạ thấp, nhằm giảm mức độ
sắc sai và tăng cường chất lượng hình ảnh.



IF (Internal Focus)

Ống kính có cơ chế căn nét trong, giúp cho cho chiều dài của ống không
thay đổi khi căn nét.



IRF (Internal Rear Focus)

Căn nét trong phía sau. Ống kính có cơ chế căn nét trong thông qua chuyển
động của các thấu kính nằm phía sau thân ống.



PRO

Ống kính có vỏ làm bằng alumite gia cố làm tăng độ bền của ống.



SD (Super Low Dispersion)

Ống kính có thấu kính bằng chất liệu kính tán xạ siêu thấp, giúp giảm mức
độ sắc sai.

Prevents chromatic aberration because it concentrates and directs the
wavelength of the light more effectively onto the camera’s sensor